Hiển thị các bài đăng có nhãn Bài trang bạn. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Bài trang bạn. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 16 tháng 1, 2017

CHIẾC CẦN CÂU Ý NGHĨA

(Bài của NV Phạm Ngọc Tiến, trên Nhân Dân hằng tháng, 15/01/2017)
Những đứa trẻ ở đây là học sinh miền núi. Trong đó có nhiều em ở vùng sâu, vùng xa, biên giới. Ở đó điều kiện vật chất thiếu thốn, khó khăn hơn nhiều những đứa trẻ miền xuôi và thành thị. Các em không chỉ ở nơi điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt, lạc hậu với những tập tục có từ ngàn đời mà còn phải chịu thiệt thòi từ những điều kiện khác như nghèo khó, thiếu điện, thiếu nước, giao thông chia cắt, nền sản xuất nhỏ lẻ, du canh du cư, đất đai canh tác eo hẹp, cằn cỗi. Những đứa trẻ miền núi đến trường tìm con chữ đang phải đối mặt với vô vàn thách thức.

Việc học từ nhiều năm nay luôn là một bài toán khó giải dù học sinh miền núi nhận được rất nhiều sự quan tâm từ chính sách của Nhà nước đến sự chia sẻ của cộng đồng xã hội. Cách nay chỉ 20 năm ngoài đường liên huyện và những thắng cảnh nổi tiếng như Sapa, Mẫu Sơn... đường giao thông thuận tiện, các bản làng xa trung tâm hầu như bị chia cắt. Để vào được những nơi đó chủ yếu phải dùng các phương tiện như xe máy hoặc đi bộ. Nhưng chỉ sau đó miền núi đã được đầu tư đồng bộ bằng Chương trình 135 bắt đầu từ năm 1998. Nội dung cơ bản nhất của Chương trình 135 là giải quyết xây dựng phát triển cơ sở hạ tầng và các dịch vụ công cộng địa phương thiết yếu như làm đường giao thông, điện lực, trường học, trạm y tế, nước sạch và nâng cao đời sống cũng như văn hóa. Sau các giai đoạn của chương trình được kéo dài đến 2010 về cơ bản giao thông đã bê-tông hóa về đến các trung tâm xã. Ngoài đường giao thông, các trường học ở điểm chính đã được xây dựng kiên cố. Các xã có trạm xá. Những hộ nghèo cũng được quan tâm trợ giúp thường xuyên. Bên cạnh đó là những chính sách đãi ngộ trẻ miền núi về nhiều mặt. Trẻ em học nội trú từ bậc tiểu học được chu cấp tiền ăn tháng. Trẻ mầm non được tiêu chuẩn ăn trưa phát bằng tiền. Sách vở đồ dùng học tập được tài trợ cho các cấp học... Tất nhiên những chính sách này chỉ giải quyết được một phần nhu cầu của trẻ em đến trường và đời sống của đồng bào. Đặc biệt tình trạng trẻ em đến trường không đều và trẻ ngại học, bỏ học hoặc không đủ điều kiện học lên trung học phổ thông và các cấp học cao hơn. Đó là một sự thật.

​Từ lâu trong xã hội đã nảy ra những cuộc tranh luận về thuyết cần câu và con cá. Sở dĩ có việc này là vì đã thành truyền thống của người Việt lá lành đùm lá rách, nên người dân miền xuôi trước thực trạng thụt lùi về mặt bằng xã hội của miền núi đã luôn luôn có những động thái chia sẻ. Cá nhân hoặc nhóm, một cơ quan hay là cả một tập đoàn, những tổ chức thiện nguyện có pháp nhân hay không có đều luôn có mặt ở miền núi đặc biệt là những khi có thiên tai như bão lụt hay băng tuyết. Chống đói thì có gạo mỳ thực phẩm. Quần áo, khăn ủng, chăn để chống rét. Trường học vẫn là đối tượng tài trợ chính. Sách vở, bút giấy, những đồ dùng học tập và tất nhiên cái ăn, cái mặc cho các em được coi trọng. Lớn hơn nữa là dựng trường ở những nơi chính sách Nhà nước chưa với tới được hoặc ở các điểm trường cắm bản hẻo lánh. Sự tương trợ này nhiều nhưng không đồng nhất vì là tự phát và tập trung vào một số nơi thuận tiện hơn về giao thông. Là người có mặt rất sớm và tham gia nhiều chuyến đi tôi hiểu rằng tất cả những thứ vừa nêu chỉ là những con cá, có nghĩa nó chỉ là giải pháp tình thế. Rất cần, nhưng những con cá ấy không thay đổi căn bản được tình trạng miền núi vẫn giậm chân ở một khoảng cách tụt hậu khá xa so với miền xuôi và trẻ em thất học nhiều. Cần phải tạo ra chiếc cần câu cho miền núi. Vậy chiếc cần câu đó là gì?

​Là phải thay đổi nhận thức của đồng bào thiểu số về sản xuất và tổ chức đời sống mà không làm phương hại đến bản sắc dân tộc của họ. Nhưng thay đổi bằng cách nào? Chương trình 135, những chính sách về giáo dục cho học sinh, sự trợ giúp ào ạt của người dân miền xuôi đối với miền núi với rất nhiều giá trị vật chất và tinh thần. Nhiều giải pháp như chọn công nghệ nuôi trồng, cấp con giống, hỗ trợ kỹ thuật canh tác nhưng chưa đủ để thay đổi. Vậy có cách gì?

​Pa Cheo là một xã nghèo nhất huyện miền núi Bát Xát, Lào Cai. Đất đai canh tác thiếu dù diện tích rộng nhưng toàn núi đá. Năm 2011, tôi đi cùng quỹ Trò nghèo vùng cao đến huyện Bát Xát tài trợ việc tổ chức nấu ăn trưa cho các cháu mầm non ở một số xã. Đến Pa Cheo khảo sát thấy đây là điểm trũng nhất huyện về giáo dục. Cho đến năm 2011 chưa hề có một học sinh nào đi học trung học phổ thông. Người dân ở đây chủ yếu là người dân tộc Mông, dân trí thấp, nhiều hộ nghèo, lạc hậu. Phát hiện ra Pa Cheo có không ít nhóm bạn từ Hà Nội đã tổ chức các đợt giúp đỡ học sinh nơi đây. Vẫn là đồ chống rét, dụng cụ học tập như truyền thống. Trong đó có một nhóm bạn gồm các doanh nhân, viên chức, bác sĩ, nhà báo gọi là nhóm Giỏ Thị đã áp dụng một phương thức mới đó là liên hệ với chính quyền địa phương và hiệu trưởng Trường THPT số 2 Bát Xát để cách nào đó động viên các em tốt nghiệp THCS lên học tiếp. Thầy giáo Sa Anh vốn là một lãnh đạo Phòng Giáo dục Bát Xát cũ nay là hiệu trưởng hiểu vấn đề nên rất ủng hộ phương thức này. Nhóm đã cùng nhà trường và chính quyền xã tổ chức cuộc gặp mặt với học sinh và phụ huynh của họ động viên và cam kết sẽ bảo trợ các em ở những năm học xa nhà. Thậm chí có trường hợp nhóm đến tận nhà để thuyết phục. Sau đó tổ chức cho các em đến tham quan trường để tạo quyết tâm. Trường THPT số 2 Bát Xát cách Pa Cheo vài chục cây số. Kết quả đã có một số học sinh đủ tiêu chuẩn điểm đồng ý đi học chuyển cấp. Giỏ Thị đã xây dựng một nhà nội trú, hỗ trợ tiền đóng các khoản học ngoài tiêu chuẩn Nhà nước, trang bị đồ dùng, ti-vi, may đồng phục, hết năm học tổ chức cho các em tham quan Hà Nội. Từ năm học 2012 đến nay đã lần lượt thu hút được học sinh Pa Cheo đi học và lứa đầu tiên đã ra trường. Số học sinh tốt nghiệp tiếp tục được tài trợ đi học tiếp. Hiện Pa Cheo có 11 học sinh theo học cao đẳng chuyên nghiệp và trung cấp, sơ cấp nghề. Em Lý Thị Xúa là học sinh nữ đầu tiên của Pa Cheo học hết THPT, hiện đang học cao đẳng Sư phạm Thái Nguyên. Lý A Sử, Cứ A Vềnh học Trung cấp Y tế Lào Cai. Các trường hợp này đều đặc biệt khó khăn. Sử mồ côi cha, Vềnh không có mẹ từ nhỏ. Cá biệt có em Hầu A Vàng mồ côi cha mẹ phải ở với chú là Hầu A Chúng, Bí thư Đảng ủy xã, nhóm bằng mọi cách động viên để em đi học Trường cao đẳng nghề Cơ khí Nông nghiệp ở Vĩnh Phúc. Pa Cheo hiện nay với sự trợ giúp của Quỹ Trò nghèo vùng cao cho 414 học sinh tiểu học là diện không nội trú, không được hưởng tiêu chuẩn Nhà nước có bữa cơm trưa tại trường thay cặp lồng với số tiền cho năm học 2016-2017 hơn 400 triệu đồng, cộng với nhóm Giỏ Thị bảo trợ cho học sinh THPT và sau khi ra trường học lên cấp, học nghề đã thật sự là một điểm sáng giáo dục của huyện Bát Xát.

​Tỉ mỉ những điều này bởi tôi nghĩ đây chính là chiếc cần câu mà chúng ta đang tìm lời giải. Phải mang được chiếc cần câu chữ nghĩa về cho các em. Những con chữ với lớp học sinh hôm nay sẽ là chủ nhân của Pa Cheo tương lai. Chính các em sẽ thay đổi cuộc sống của quê hương mình. Tôi tin thế. Từ dẫn chứng Pa Cheo, thiết nghĩ với miền núi ngoài chính sách của Nhà nước cần xã hội hóa sự trợ giúp của đồng bào. Nếu các nhóm thiện nguyện khoanh vùng để cụ thể từng trường học thì chắc chắn sẽ có nhiều Pa Cheo khác. Dĩ nhiên lúc đó với những chiếc cần câu chữ nghĩa, miền núi của chúng ta sẽ khác. Sự thay đổi là tất yếu cho dù không phải trong một tương lai gần. Xin hãy bắt đầu.
Em Hầu A Vàng (đứng giữa) trong ngày nhập trường

Thứ Ba, 7 tháng 1, 2014

TÁ BẠ - NƠI NGHÈO CẢ NỤ CƯỜI

(Đào Tuấn - LĐ) Lai Châu nghèo nhất cả nước. Mường Tè nghèo nhất Lai Châu. Còn Tá Bạ, xã vừa tách ra từ xã nghèo Ka Lăng, thì nghèo nhất Mường Tè. Tá Bạ nghèo từ nguồn nước, "ký điện", nghèo trong mỗi bữa ăn của người La Hủ, nghèo đến cả những nụ cười.
(Tác giả Đào Tuấn báo Lao Động đi cùng chuyến CCT - Giỏ thị - PSC 11.2012, bạn có thể đọc lại ở đây)

Kỳ 1: "Con hổ" chờ cứu đói
Người La Hủ thường tự hào giải thích rằng: La là hổ, Hủ là sóc, La Hủ nghĩa là mạnh như con hổ, khéo léo và nhanh như con sóc. Nhưng giờ đây, "con hổ" trong hình hài một người đàn ông đang ngồi hút thuốc lào vặt chờ cứu đói. Còn "con sóc", trong cái dáng một người đàn bà, lúc nhúc một bầy con, lờ đờ ngước nhìn với khuôn mặt ngơ ngác.

Đuổi hình bắt sóng
Ủy ban vắng hoe, chỉ còn Vàng Pha Ly - Chủ tịch HĐND xã Tá Bạ trực ở nhà. Sự tạm bợ có thể nhìn thấy ở bãi hoang đỏ choét đất mới đang bị mưa lũ mài mòn dần, và những căn nhà tạm đề biển UBND run bần bật trong gió. Cái tạm, ở việc còn thiếu sự tối thiểu của văn minh: Một buồng WC có nước. Hỏi cán bộ đi đâu hết rồi? Đáp: Cán bộ xin về nhà "làm lý". Đang đúng bữa Hò sư trà (tết năm mới của người Hà Nhì, La Hủ). Việc chính quyền không lớn hơn chuyện "làm lý" ở nhà. Thực ra, dân cũng chẳng mấy khi tới uỷ ban. Bởi việc chính của dân vẫn là kiếm miếng đút miệng. Bao đời nay vẫn thế. "Đói ư ? Một năm được tính thành hai mùa. Mùa no và mùa đói. "Nhưng giờ đây, mùa đói kéo dài đến 9-10 tháng trong năm" - Vàng Pha Ly - vị chủ tịch hội đồng đen đúa nói thế.

Tá Bạ vừa tách ra từ Ka Lăng. Trụ sở uỷ ban nằm tơ hơ trên một bãi đất trống, không nước sạch, không điện lưới. Cả ủy ban trông vào một chiếc máy thủy điện liên tục “hắt hơi sổ mũi”. Đèn, quạt, tivi nhìn ra cũng đủ cả, nhưng chỉ để làm cảnh, vì “cứ dùng là cháy”. Khoát tay với rừng núi điệp trùng trước mặt, Vàng Pha Ly than rằng Tá Bạ đất thì nhiều ruộng thì ít. Với diện tích tự nhiên 11.375ha, nhưng cả xã chỉ có 279 hộ/1.696 khẩu. Sự mênh mông không đồng nghĩa với ruộng đất. Cả xã chỉ có một con mương, đủ nước tưới cho 5-7ha. Còn lại thì trông cả vào ông giời. Cái thiếu của Tá Bạ chính là những công trình thủy lợi để biến đất hoang thành ruộng vườn. Tá Bạ 98% là người Hà Nhì và La Hủ. Trình độ canh tác lạc hậu một ngàn năm với chỉ một phương thức duy nhất là chọc lỗ tra hạt. Vì thế, chẳng có gì lạ khi có tới 93% là hộ nghèo.

Quỹ Tấm lòng vàng Lao Động và chương trình "Cơm có thịt" có mặt tại Tá Bạ.
Vàng Pha Ly ít nói, chậm nói nhưng không ít hài hước khi ông kể câu chuyện sóng di động ở Tá Bạ. Đó là thứ sóng mà mỗi độ muốn gọi điện thoại, cán bộ xã chạy như cuồng từ mỏm đồi này sang vách núi nọ. "Ở đây chúng tôi chơi trò đuổi hình bắt sóng" nếu muốn cái máy điện thoại thay chân người. Xã mới Tá Bạ đang thực hiện gom dân, thứ việc giống y với cách thức chính quyền vào rừng thuyết phục người La Hủ, đang lang bạt ở rừng xanh núi đỏ nào đó ra ngoài lập bản. Rồi sau đó, bắt đầu với những bài toán không thể giải nổi: Đất cho bà con, để an cư lạc nghiệp. Miếng ăn, để không phải ngày ngày chui rừng xuyên núi. Và xa hơn, là việc thúc bọn trẻ đến trường.

Chính thầy Xỳ Xì Phạ - Hiệu phó Trường Trung học cơ sở Tá Bạ - cũng nói lên niềm mơ ước lớn nhất của những người thầy ở đây, là biết đâu, một ngày nào đó một học sinh La Hủ - đang học tiếng Việt qua các thầy giáo người Hà Nhì - sẽ vào đại học, sẽ trở về xây dựng quê hương. Nhưng tương lai đó xa lắm. Bởi cái gần là bây giờ Tá Bạ mới bắt đầu mở lớp chuyển. Gần hơn nữa là miếng ăn hằng ngày mà chữ "đủ" vẫn còn quá xa xỉ.

Bản không tên
Người La Hủ sinh sống nơi đây với trình độ thâm canh quá lạc hậu. Có một câu để nói về đồng bào, đã được nói tới tại nghị trường Quốc hội: "Đói không kêu. Cho không mừng". Nhưng thế là thế nào? Tôi hỏi Xỳ Xì Phạ khi cưỡi xe máy trùi trượt xuống bản. "Đồng bào không biết là họ đang đói" - Phạ - thầy giáo người Hà Nhì - trả lời. Câu chuyện "không biết mình đang đói" được chứng thực chỉ ngay sau đó.
Cảnh ở tạm bợ của thầy và trò Tá Bạ

Phả Gió Nu (35 tuổi) 5 con và 1 chồng, đang ở trong một căn chòi cỡ 2 chiếc chiếu đôi. Gió lạnh rùng rùng qua vách liếp. Vật dụng trong căn nhà trống trước trống sau chỉ là một chiếc đèn pin, 3 chiếc gùi đi nương, 2 con dao và 1 chiếc điếu cày. Trưa đó, cả nhà chỉ còn đúng một bắp chuối vừa lượm về từ đâu đó. Hỏi: Trưa nay ăn gì? Lắc đầu. Ngày mai ăn gì: Lắc đầu. Thực ra, người La Hủ vẫn được Nhà nước cứu trợ gạo mỗi tháng. Nhưng số gạo đó không đẻ ra được thóc. Rất nhanh chóng, những người dân lại phải vác dao vào rừng.

Nhà Gió Nu, cùng với 17 hộ khác vừa được di ra khỏi rừng để lập bản mới. Không đất. Không nước. Không điện. Không cả cái ăn. Cuộc sống là sự bòn nhặt từ rừng, một bắp chuối, vài đọt măng và những con cua suối nướng vội. Từ bữa chuyển từ Chổng Phú Thơ (đầu nguồn thủy điện Pác Ma) về đây, gia đình 7 người đó ôm gối hút thuốc lào vặt chờ cứu trợ để ăn cho thực no một bữa rồi ôm bụng đói, dài cổ chờ kỳ cứu trợ kế tiếp.

Ngay bên cạnh là nhà Lò Phù Sứ. Bà cụ năm nay đã già lắm rồi. Bàn chân trần cả đời chưa từng xỏ dép, dày lên một lớp chai, mốc thếch. Bà cụ đương ôm bụng đói ngồi hút thuốc lào vặt. Trên bếp, bắc một ấm nước đun cho có mùi khói. Những lời than vãn của bà được Xỳ Xì Phạ dịch ra rằng: Chồng mất rồi. Con trai đang đi rừng. Lấy được gì ăn đó thôi. Không có thì đi xin.

Câu chuyện sinh kế nói ra đây thực vô duyên, khi bản mới không một mảnh đất cắm dùi dù xung quanh bạt ngàn đất hoang. Chính Vàng Pha Ly - Chủ tịch HĐND xã - cũng nói năm tới sẽ “nói câu chuyện khai hoang” với người dân bản mới, một bản nghèo tạm bợ đến không có cả một cái tên, thậm chí, không có trưởng bản để mỗi độ tết Hò sư trà đứng ra "làm lý". Những mái nhà, căng bạt xanh Nhà nước cho, nhưng có lẽ, sẽ nhanh chóng chuyển sang "màu vàng", bởi mái lá xanh đó không khiến những cái bụng ngừng sôi réo.

Rất nhiều tiền của đã được đổ vào ngõ hầu giúp người La Hủ từ bỏ cuộc sống du canh du cư, nay đây mai đó của họ. Tấm bạt xanh thay cho những túp lều lợp lá chuối đơn sơ như những cái tổ chim. Kỹ thuật trồng lúa nước được tay chỉ tay. Trâu bò được cho không. Thậm chí, cả việc xây nhà vệ sinh. Nhưng cái thiếu nhất của người La Hủ vẫn là những con chữ. Những con chữ để làm nên thứ gọi là dân trí. Trong những câu chuyện cười ra nước mắt về người La Hủ ở Tá Bạ, có những cắc cớ, rằng vì sao phải nuôi con heo nửa năm trong khi nửa ngày ra suối đã có con cá, con cua đút miệng? Tại sao phải trồng rau khi "măng đã mọc sẵn trong rừng"? Và tại sao phải lấy ngô nuôi gà khi ngay cả con người còn chưa có miếng gì va miệng?

Thiên nhiên đã ở trong máu của người La Hủ và từ bỏ lối sống, từ bỏ tập quán từ ngàn đời nay không dễ, khi mà những bàn chân chai sần cả đời không xỏ dép quen lội rừng vượt núi hơn là đi trên mặt đất bằng.

Vẫn biết, một cách bền chặt là việc cho những đứa trẻ của ngày hôm nay học cái chữ, để ngày mai ít nhất cũng biết "Kêu khi đói và mừng khi nhận". Nhưng việc học ở Tá Bạ, ở vùng cao không đơn giản chỉ là chuyện đến trường.

Kỳ 2: Nụ cười Tá Bạ

Chủ Nhật, 18 tháng 11, 2012

Thư ngỏ gửi ông bộ trưởng Bộ Nội vụ

Trích tin tổng hợp từ Vietnamnet:
"Trong tuần qua, một bức thư khác, dù không gây sốt, cũng không liên quan đến phong bì, xe chính chủ, nhưng rất đáng để suy ngẫm. Đó là Thư ngỏ gửi ông bộ trưởng Bộ Nội vụ của vị nguyên Phó TGĐ Đài Truyền hình VN, mà giờ nhiều người quen gọi là Tuấn "Cơm có thịt".
Bức thư kể về "hành trình gian nan" để được chính thức hóa một dự án nhằm đem lại những bữa cơm có thịt cho trẻ em vùng cao còn bao khốn khó. Bằng giọng  trầm tĩnh của một người hẳn đã kinh qua gần hết mọi cung bậc cuộc đời, bức thư của ông gợi cho chúng ta nhiều điều.
Theo bức thư, nhóm của ông đã lập hồ sơ xin thành lập quỹ từ thiện "Cơm có thịt" gửi Bộ Nội vụ vào cuối tháng 5/2012. Nhưng sau tròn 5 tháng,  tức hơn gấp 3 lần thời gian tối đa để trả lời, họ vẫn chưa nhận được dòng hồi âm nào. Lý do rất đơn giản là "chẳng có vướng mắc gì, chẳng qua lãnh đạo đi công tác suốt nên chưa trình được" và có vẻ chuyên viên không thích cái tên quỹ.
Ông cũng thẳng thắn bày tỏ, ông viết thư không nhằm mục đích đề nghị ông bộ trưởng đôn đốc việc cấp phép cho quỹ của mình. Bởi theo ông, bộ trưởng dẫu có đích thân làm thay nhân viên thì cũng chỉ được một vài lần.
Điều mà người cũng từng trải qua vị trí lãnh đạo cao này hướng đến là những thay đổi gốc rễ, triệt để. Thứ nhất là mong bộ trưởng cho rà soát có bao nhiêu hồ sơ đề nghị thành lập quỹ xã hội - từ thiện còn đang nằm tắc đâu đó ở bộ. Và thứ hai, hi vọng bộ trưởng nghiên cứu và nếu thấy điều kiện mức tiền góp để được lập quỹ từ thiện có cái chưa hợp lý, thì tham mưu, đề xuất sửa đổi cho hợp lý hơn.
Quả vậy, dù có chịu khó thường xuyên "vi hành", các nhà lãnh đạo cũng không thể tạo ra những thay đổi bản chất, nếu giữ tư duy xử lý theo vụ việc. Và những cuộc phát động, dù với vô vàn mỹ từ hấp dẫn hơn nhiều cái tên có phần phồn thực "Cơm có thịt", cũng sẽ có kết quả tương tự, nếu cứ viển vông, xa rời thực tế.

Thứ Bảy, 13 tháng 10, 2012

Con cá khô để dành

"Ngày đầu tiên của Cơm Có Thịt United States, cho tôi kể lại chuyện này. Cách đây ít ngày chúng tôi lên Tả Gia Khâu, một xã biên giới phía Bắc, mang theo bánh kẹo, đầu lân, đèn ông sao, đồ chơi... để cùng nhà trường tổ chức Trung Thu cho hơn 200 em Mầm Non và Tiểu học. Bánh kẹo bày ra các bàn, tôi thấy các bé ăn rất thích thú, nhưng...không ăn hết, dù có vẻ vẫn muốn ăn nữa. Có bé lấy những hộp bánh rỗng, cho vào đấy phần bánh kẹo không ăn, cầm trong tay. Có bé thì dành lại nguyên gói bánh được trao trước đó. Bé sẽ mang về nhà, hoặc mang về ký túc xá, để dành.

Tôi lại nhớ Dền Thàng, một nơi khác cũng gần biên giới, nơi chúng tôi lên rất sớm, tháng 10 năm ngoái. Tôi nhìn thấy các bé được các cô mua cho bữa ăn của các bé những con cá khô ngoài chợ, bé lắm, nếu bạn gái nào có ngón tay thật thon, các bạn hãy nhìn và hình dung con cá khô bằng 1/3 ngón tay bạn. Mỗi bé được cô chia cho một hai con cá khô. Cuối ngày, cô phát hiện thấy có bé nắm trong tay con cá khô của mình. Để đem về nhà. Có lẽ bé muốn anh chị cũng được ăn.

Khi ấy, ở Dền Thàng, tôi - và chắc tất cả bạn bè tôi - đã nguyện rằng sẽ không bao giờ mệt mỏi trong những chuyến đi lên với các bé. Bạn bè tôi còn nhiều lần bật khóc ở Dền Thàng. Và nhiều nơi khác nữa.

Ở Tả Gia Khâu, một lần nữa, tôi và bạn bè hiểu rằng, chúng ta - nghĩa là tôi, những bạn bè bên cạnh tôi, và nhiều hơn là hàng ngàn bạn chưa lần nào gặp ở mọi nơi gần xa, trong ngoài nước, những người gửi tiền đến cho Cơm có thịt - chúng ta không hẳn là đang đến để giúp các bé.

Mà có thể, chúng ta đến để học từ các bé, rằng khi yêu thương thì phải làm gì."

(Bài chia sẻ ngắn này của bác Trần Đăng Tuấn viết trên trang FB của các bạn trẻ ở US  quyên góp ủng hộ Cơm thịt cho các bé vùng cao, link: Chúng ta đến để học)

Thứ Năm, 6 tháng 9, 2012

“Chuồng học”

“Chuồng học” ở Huổi Chát                                                            Nguồn: Lao động

"Huổi Chát là một bản Mông chừng vài chục nóc nhà ở huyện nghèo Mường Tè. Hôm chúng tôi có mặt, chỉ còn 7 ngày nữa là đến ngày hội khai giảng, nhưng những gì bày ra trước mắt thật đắng lòng: Một căn lều tranh tre nứa lá gió thổi tứ bề, xiêu vẹo, ghế gãy bàn long, ủn ỉn trong đó một cặp lợn mán, được cô giáo cắm bản giới thiệu là trường học."...ĐỌC TIẾP
"Chuồng học" ở Huổi Chát

Thứ Hai, 30 tháng 7, 2012

Trước thềm năm học mới (TĐT)

*** Xin chia sẻ với bà con Giỏ thị bài viết của bác TĐT trên website "Cơm thịt (nguồn)

Tháng 9.2011, khi từ Suối Giàng về, kế hoạch của chúng tôi là lập một 'dự án' nhỏ, để gần hai trăm học sinh nội trú dân nuôi của Suối Giàng được ăn một hai miếng thịt mỗi bữa ăn. Mấy người chúng tôi định rủ nhau làm việc đó (như nhiều lần đã làm), chứ không định vận động rộng rãi ra ngoài. Nhưng chính những người không quen trên cộng đồng mạng qua những tâm tình và thúc giục đã khiến mọi việc nhanh chóng đi theo hướng khác : Một "Quỹ" ra đời với cái tên 'Cơm có thịt'.
Cho đến hôm nay, tài khoản Cơm có thịt đã nhận được 3.650.000.000 (Ba tỷ, sáu trăm năm mươi triệu) tiền ủng hộ. Sau Suối Giàng, Cơm có thịt lan dần đến các vùng khác. Đến bây giờ đã có 46 trường học nhận tiền mua thịt cho học sinh. 5100 em nhỏ hiện trong danh sách được hỗ trợ.

Chúng tôi đi những chuyến đi lên Mù Căng Chải, qua Bát xát, rồi Mường Khương, Bắc Hà, Simacai, Hoàng Xu Phì, Xín Mần,Điện Biên Phủ. Chúng tôi đã hứa một lời với những người gửi tiền, rằng từng đồng trong số tiền đó đều được gửi đến cho các em học sinh. Và về điều này, không thể có bất cứ một sự đơn sai nào. Tất cả mọi đồng tiền ủng hộ đều được dành trọn vẹn cho các em, không một chi phí nào về quản lý, vận hành. Không qua một nấc trung gian nào, đến thẳng các trường. Nhưng hơn cả cam kết đó: Chúng tôi muốn gửi đến đúng chỗ cần nhất, và sau khi gửi đến rồi, ở mỗi trường những đồng tiền trên phải trọn vẹn thành cá, thịt cho các cháu.Vì muốn vậy, chúng tôi phải đi nhiều, rà soát nhiều. Những chuyến đi ấy ngày càng đông bạn bè tham gia hơn, nhưng ai cũng tự lo cho chuyến đi của mình, không một xu nào từ tiền ủng hộ phải chi cho chuyện đó.Một năm học đã trôi qua, và giờ đây, tôi có thể thay mặt bạn bè nói với tất cả những ai ủng hộ một lời giản dị: Những đồng tiền các bạn gửi đến , chúng tôi đã cố gắng đến hết sức mình để chúng được sử dụng hiệu quả nhất.

Chụp chung với cậu bé Trung học cơ sở Suối giàng đã tăng 4kg sau mấy tháng "Cơm có thịt"

Từ những đồng tiền ấy, các em học sinh Suối Giàng (tất nhiên, không chỉ các em Suối Giàng), đã tăng cân đến mức thày cô giáo quá ngạc nhiên.

Từ những đồng tiền ấy, các em bé Tiểu học Lao Chải không phải tự nấu ăn, rồi chuyền tay nhau (những bàn tay đen nhẻm bụi khói củi than) chiếc thìa chung xúc cơm từ nồi ăn mỗi bữa. Nay chúng có bếp, nhà ăn ấm cúng, chúng quây quần bên bữa cơm chung có thịt, có rau.

Hôm qua

Hôm nay

Từ những đồng tiền ấy, các bé Mẫu Giáo Dền Thàng không phải mang cập lồng đi học nữa. Chúng ăn cơm bằng những bát mới, thìa mới, và các cô giáo trẻ hàng ngày xúc vào bát chúng những miếng thịt, miếng cá – chưa nhiều nhặn như ta muốn, nhưng có hàng ngày (mà trước kia với chúng miếng thịt chỉ là điều hiếm hoi dịp lễ tết).

Từ những đồng tiền ấy, nhiều bà mẹ ở Mường Nhà thôi không phải nén tủi hổ thả con hàng sáng cách cổng trường Mẫu Giáo rất xa, để con tự lon ton chạy vào, còn mẹ lẩn nhanh về, sợ cô bảo mẫu nhìn thấy, sẽ hỏi sao chưa đóng tiền ăn cho con . Giờ đây, mẹ có thể bế cháu trao tận tay cô, trong lòng không vương vấn nỗi khổ tâm ngày trước.

Các cô giáo Mường Nhà gửi ảnh về : Bữa "Cơm có thịt" đầu tiên

Từ những đồng tiền ấy, cậu học sinh nội trú ở Cát Thịnh ( Văn Chấn-Yên Bái), không bỏ giờ học ngồi canh mấy con cua bắt được ngoài suối, để dành cho bữa cơm mình tự nấu. Giờ đây cùng bạn bè, em có thể yên tâm học hành, và biết rằng khi trống tan lớp vang lên, đã có bữa "Cơm có thịt" đợi các em .

Từ những đồng tiền ấy, các bé Mẫu Giáo Y Tý những ngày nắng đẹp ngồi ngay sân hè lớp ăn cơm chung, nhìn ra thung lũng mà ngay bên kia là biên giới. Các em ấm lòng một, thì lòng người lớn vùng biên ải ấm mười.

Tôi không thể kể hết những gì đồng tiền các bác, các anh, các chị đã đem lại cho các nơi xa xôi ấy. Đấy không chỉ là một ít dinh dưỡng (rất cần) cho trẻ con. Đó là những giọt nước mắt vui của thày cô vùng sơn cước, là nụ cười rạng rỡ trên mặt bố mẹ, là sự nhẹ nhõm trong lòng những người lăn lộn với công việc dạy học vùng cao ( Những người tâm huyết như vậy còn rất nhiều, và không ai vui hơn họ khi nhìn thấy bữa cơm của các em có thịt, khi nhìn thấy sĩ số học sinh tăng lên khi Cơm có thịt đến với trường học). Và trên hết, điều mang lại lớn lao là cảm xúc : Chúng ta đều là con Lạc cháu Hồng, chúng ta phải đùm bọc nhau, bởi là con dân nước Việt. Nước Việt còn đến hôm nay và mãi trường tồn, chẳng vì một sự thiên thời địa lợi nào cả,mà chỉ vì điều đó chưa bị quên lãng trong tâm khảm hầu hết người Việt bình thường.

Điểm trường Mẫu Giáo Pu Lau (Huyện Điện Biên), bữa "Cơm có thịt" đầu tiên

Những đồng tiền ấy, ba tỷ sáu trăm năm mươi triệu ấy (cho đến nay), phần lớn là từ những đóng góp nhỏ, từ những người không giàu có.

Có người chỉ có thể gửi mỗi tháng 50.000 đ, nhưng rất đều đặn, không tháng nào sai hẹn.

Có người chỉ có nguồn duy nhất: Lương hưu, và đã san sẻ từ khoản lương hưu đó.

Có người gửi tiền ủng hộ, và nhắn rằng: "Hiện em đang giai đoạn chưa có việc làm, nếu sắp tới có chỗ đi làm, em sẽ gửi nhiều hơn".

Có bác gái trước khi lìa trần, dặn lại cháu con hãy mang tiền ủng hộ cho Cơm có thịt. Và con cháu bác đã nghẹn ngào thực hiện.

Những em nhỏ đã gửi tiền với lời nhắn "Các bác chuyển hộ tới các bạn của cháu ở miền núi".

Những người Việt sinh sống xa quê, mà lo lắng chuyện cơm có thịt cho những vùng họ chưa bao giờ nhìn thấy, nhưng luôn cảm nhận đó là nơi phên dậu của Tổ quốc này. Một số người khi về thăm quê đã tìm đến gặp Cơm Có Thịt. Chúng tôi ứa nước mắt khi chưa kịp nói lời cám ơn thì có người trong số họ đã nói: Tôi ở xa, cám ơn các anh chị đã làm thay tôi !

Những khoản đóng góp của các doanh nghiệp đến với Cơm Có Thịt không phải vào thời làm ăn phát đạt, kinh tế đi lên. Và các doanh nghiệp, doanh nhân đó không cần một sự ghi danh nào. Cơm Có Thịt chỉ có những thông báo, thống kê khiêm tốn trên một blog không nhiều người biết đến.

Thời kinh tế khó khăn, nhiều người gián tiếp qua thư, nhắn tin, những người khác là đồng nghiệp gần gũi thì trực tiếp, đã thanh minh với tôi như thể mình có lỗi: "Anh ơi, em không quên đóng góp đâu,nhưng tháng này lương muộn!".

Trên đường đi làm Cơm Có Thịt, chúng tôi không thể không xót xa khi nhìn thấy những thiếu thốn của các em không chỉ là chuyện ăn, mà còn là chuyện mặc, và nhiều cái khác nữa.

Mùa đông vừa qua là mùa đông không quên với chúng tôi, khi nhìn thấy làn da tím tái của những mầm non đất nước, vào những lúc nhiệt độ gần như xuống đến độ 0.

Từ những đồng tiền đóng góp, gần vạn chiếc áo ấm đã đến với những đứa bé đang ở nơi rét nhất. Có nhiều bạn bè bỏ quên cả việc của doanh nghiệp của mình, dồn tâm lực cho việc tìm mua, tự may, nghĩ ra những sáng kiến lạ lùng nhất để có ít tiền mà nhiều bé vùng cao lại được ấm.

Tôi nhận từ phía Nam những bao quần áo đề tên người nhận, nhưng không một chữ nào để biết ai đã gửi những chiếc quần áo mới tinh và đẹp như những bộ quần áo trong các shop ở thành phố cho các học sinh phía Bắc xa xôi.

Bạn Khánh từ Vũng Tàu ra cùng đi Mường Khương mặc áo ấm cho các bé

Tháng 9 năm ngoái, khi từ Suối Giàng về Hà Nội, tôi nhớ chúng tôi dừng giữa đường ăn cơm. Và đó có thể là bữa cơm lặng lẽ nhất, khi ai cũng thấy đắng trong miệng. Nhưng từ khi chúng tôi đi đến các trường, mang áo ấm, mang ủng hộ của mọi người đến cho học sinh, thì bữa cơm nào của chúng tôi cũng tràn đầy niềm vui và tiếng cười, cho dẫu là khi ăn cùng các thày cô giáo trong sương mù và cái rét ghê gớm của Y Tý, hay bát mỳ gói hiếm hoi đêm xe hỏng ngủ lại ở Sàng Ma Sáo. Điều chúng tôi nhận được khi thay mặt mọi người đem thịt và áo ấm đến cho các em, đơn giản là: Hạnh phúc.

Đỉnh đèo Hoàng Liên Sơn, một chút lửa ấm giữa đông...

Y Tý, bên đường biên

Sân trường Mường Lói : Chọn quần áo ủng hộ cho học sinh

Thay mặt các bạn đến đây, chúng tôi là những người hạnh phúc

Chẳng ai muốn xa hạnh phúc mình đang có. Vì vậy, chúng ta hãy cùng nhau bước vào năm học mới cùng những cô cậu vùng cao đã trở thành thân thiết lắm với chúng ta. Và ta sẽ nói với nhau về những gì ta sẽ làm trong những tháng tới đây...
Hạnh phúc! Bạch Tầm Xuân (Nikname trên FB) tại sân trường Tiểu học Tả Ngải Chồ (Mường Khương), mùa hoa đào nở.

Thứ Hai, 9 tháng 1, 2012

Nhật ký Tây Bắc: Dền Thàng, Y Tý

(Bài của HAT đăng tại http://tuanhavn.blogspot.com/)

Sáng hôm sau, 04.01, chuẩn bị khởi hành đi Y Tý, xe tôi lại xẹp bánh sau, chắc bị đá đâm từ hôm qua. Vì phải thay bánh xe dự phòng, chúng tôi khởi hành chậm hơn xe anh K. một lúc. Ngang qua con ngầm bữa trước, lại sa lầy. 5 người xuống xe đẩy, chẳng ăn thua gì, càng cố thoát, xe càng trượt ngang về phía bờ suối. Nhà văn TL phải chạy đi tìm thêm người. May sao có một nhóm gần chục công nhân ở công trường gần đó (hình như là xây dựng trạm thủy điện) ra đẩy xe giúp, chúng tôi mới thoát. Nhập được với đoàn ở Mầm Non Dền Thàng.

Mọi chuyện ở các điểm trường Dền Thàng, Y Tý đã được các bạn đồng hành (MTH, Lana, TL) kể khá chi tiết và ấn tượng. Tôi sẽ chỉ post mấy bức hình, và kể về những chuyện khác.

Ở vùng non cao này nhà cửa thưa thớt, người H'Mông ở tản mát, nhà nọ cách xa nhà kia, toàn cheo leo trên núi. Ở đây rất nhiều thứ làm bằng đá: hàng rào quanh nhà xếp đá, đường rải đá, bờ ruộng cũng xếp đá thành từng khoảnh bậc thang theo sườn núi dốc, có những mảnh vườn (bậc thang nốt) chỉ to như cái chiếu. Tường nhà người H'Mông thường làm bằng đất sét chình rất dày, vững chắc.



Ruộng bậc thang vào mùa đổ nước

Trời vẫn mưa gần như suốt ngày, khi lất phất, lúc ào ào. Hôm nay còn rét hơn hôm qua, ở Dền Thàng, nhiệt kế trên xe chỉ 5-6 độ C, lên đến Y Tý thì chỉ còn 3-4 độ C, trong xe phải bật quạt sưởi hết công suất. Sương mù khá dày, tôi cứ bám theo đèn hậu xe chạy trước mà đi.

Đến Mầm Non Y Tý lúc mưa to. Bọn trẻ con ngồi co ro trong lớp, hầu hết chúng nó mặc không đủ ấm, chỉ có cái áo khoác mỏng hay cái áo nỉ bên ngoài áo sơ mi. Lớp xốp trải sàn tuy mỏng cũng giúp những bàn chân trần đỡ buốt. Bữa trưa, có tài trợ của chương trình "cơm có thịt", mỗi bé được cô chia một tô cơm to và khá nhiều trứng chưng trông thật ngon lành.

Con đường từ Y Tý trên đỉnh núi cao về thị trấn Bát Xát đã được sửa và nâng cấp, khá tốt, trải nhựa phẳng phiu. Tuy nhiên, đường rất hẹp, hai xe con tránh nhau còn khó. Mấy lần chúng tôi gặp xe tải đi ngược chiều, thật đúng như cảnh hai con dê qua cầu, một xe phải lùi, đến chỗ có lề đường rộng hơn chút, xe kia mới qua được. Có lần, một chiếc xe tải chở nặng đi ngược chiều không chịu tránh về bên mép vực sâu hun hút, chúng tôi phải nhường nó đi sát ta-luy.

Hai con dê qua cầu

Loanh quanh thế nào, chúng tôi bị lạc đường, rẽ nhầm vào con đường đất, chạy hơn 10 km lại thấy quay ra lối cũ. Ở dưới xuôi chạy lạc vài chục cây số không có gì ghê gớm. Với điều kiện không phải con đường như thế này. Bùn đất nhão nhoét và trơn, xe bò lên ì ạch, tiến 3 mét lại lùi một mét.


Xe 7 chỗ cũng bị chạm gầm, mọi người trên xe phải xuống hết cho nhẹ xe, leo bộ ngược lên con dốc cao, nước mưa cuốn theo bùn đất chảy xối xả.


Vượt qua quãng đường lầy lội ở A Lù, xe đổ dốc đi về hướng Trịnh Tường. Từ trên núi cao, chúng tôi thấy thấp thoáng phía dưới có con đường cao tốc rất hoành tráng, cứ thắc mắc sao ở vùng này cũng có đường to thế. Tới lúc xuống đến bờ sông, có tín hiệu điện thoại, xem bản đồ định vị, mới biết mình đang đứng bên Sông Hồng, và trước mặt là con đường vành đai ở bên kia biên giới.


Lúc đó, trong lòng tôi dấy lên một cảm xúc khó tả: nỗi bồi hồi khi lần đầu đi đến mảnh đất địa đầu Tổ Quốc, nỗi buồn khi thấy sự tương phản của hai con đường hai bên bờ sông, biên giới tự nhiên của hai nước.



Kể lể dông dài những điều mắt thấy tai nghe trong chuyến đi thực tế, tôi không có ý định "khoe khoang" những sự vất vả của đoàn "cơm có thịt". Bởi lẽ đơn giản, chút gian truân nho nhỏ không thấm vào đâu so với niềm vui lớn lao, những cảm xúc sâu sắc mà chúng tôi có được. Hơn nữa, những trải nghiệm đó làm chúng tôi cảm thấy mình cứng cáp hơn. Như bé Đ., bé N. đang say xe là vậy mà gặp lúc bí, cũng xuống lội bùn đẩy xe, bẻ cành, xúc cát ... lót đường, thế là hết cả say xe.

Chúng tôi ai cũng hiểu rằng mình là những người "đến rồi đi", nếu có tấm lòng, có điều kiện thì thỉnh thoảng quay lại với các em bé nơi này. Nhưng những người dân, những đứa trẻ ở đây thì khác. Đó là cuộc sống hàng ngày, hàng giờ của họ. Họ không có lựa chọn nào khác là phải chấp nhận, phải chịu đựng cái đói, cái rét, phải đi trên những con đường ngập ngụa bùn đất, phải tìm cách vượt qua dòng suối chảy xiết vào mùa lũ để đi học, đi làm, đi chợ vì nhiều nơi không có cầu, phải sinh hoạt trong bóng tối vì nhiều nơi không có điện, phải kỳ công đắp những thửa ruộng bậc thang cheo leo trên sườn núi vì không có đủ đất canh tác ...

Về đến Bát Xát giữa buổi chiều, đoàn chúng tôi chia tay. Một số bạn tình nguyện viên lên tàu đêm từ Lào Cai về Hà Nội, một nhóm đi tiếp lên khảo sát mấy điểm trường ở Mường Khương. Xe nhà tôi 3 người quay về Hà Nội. Tuy không nói ra, nhưng ai cũng cảm thấy như có món nợ với vùng đất này, ai cũng quyết sẽ phải quay lại nơi đây, vì đã đến, đã nghe, đã thấy, và đã để lại một mảnh tim ở vùng cao Tây Bắc.

Thứ Sáu, 6 tháng 1, 2012

Nhật ký Tây Bắc: Tả Lèng

(Bài của HAT đăng tại http://tuanhavn.blogspot.com/)

Sáng 03.01, một cơn mưa rào xối xả làm chúng tôi phải xuất phát từ Sapa đi Pa Cheo chậm hơn dự kiến. Lại càng phục bạn Sống Thật Chậm đã tính toán chu đáo, đưa đồ vào Trường từ chiều hôm trước. Chờ mưa ngớt, chúng tôi lên đường. Nhờ mưa nên sương mù ít hơn, nhưng đường cũng trơn hơn. Cảnh vật trên đường đẹp mê hồn, song chúng tôi không có nhiều thời gian để dừng lại chụp hình.

Núi non trùng điệp trong mây

Đường đi Pa Cheo trải nhựa, khá tốt. Nhưng xe phải dừng cách điểm Trường chính - Kin Sáng Hồ - khoảng 1 km, vì người ta đang thi công đoạn đường qua ngầm. Đến nơi, đã có rất đông thầy cô giáo và dân bản đang đội mưa đứng chờ đón, đưa chúng tôi vào từng điểm trường bằng xe máy.

Bản Tả Lèng cách nơi ô tô dừng khoảng 5-6 km. Xe máy chở tôi vừa đi thì bị thủng lốp. Chờ một lúc, có người dân bản đi qua, tôi nhờ chở vào trường, đến chậm mất 10-15 phút. Đưa tiền, anh xe máy nhất định không lấy, tôi chỉ còn biết nói lời cảm ơn anh. Ba người nhóm chúng tôi, ngoài số thức ăn đã chuẩn bị của Gánh Hàng Xén, còn xách theo 3 túi quần áo trẻ em do một người bạn của tôi vừa đưa buổi tối trước hôm đi, mà tôi không kịp chuyển cho Gánh Hàng Xén, và quyết định mang theo để phát dự phòng.

Đến nơi, tôi bàng hoàng khi thấy trường lớp sơ sài đến thế.
Cổng trường dốc ngược, trời mưa đường trơn như đổ mỡ, tôi đi rón rén lắm mới không bị té. Còn sân trường - có lẽ không cần bình luận gì thêm - bạn cũng tự thấy cả rồi.

Leo lên đã khó, leo xuống còn khó hơn!

Sân trường của chúng em.

Chạy vội vào lớp Mầm Non, tôi không kịp để ý thấy mấy lớp Tiểu học bên cạnh, sau mới biết Trường Mầm Non "ở nhờ" Tiểu học. Hơn 20 đứa tý nhau 4-5 tuổi đã ngồi ngoan trong lớp đón khách. Lúc tôi bước vào, cô giáo nói: "Các con chào khách nào!", chúng đồng thanh: "Chúng con chào cô ạ" :). Сó lẽ chúng chưa biết từ "chú" hay "bác".

Lớp chúng cháu có bức tranh đẹp thế !

Sắp được chia áo, chia quà !


Ngoài cửa có rất đông người dân bản đến xem "cán bộ phát thịt phát áo" - họ cứ gọi người miền xuôi là cán bộ. Không biết con bé xinh xắn, khoảng 6 tuổi, chân đất địu em này có được đi học không nhỉ?


Tôi đã ứa nước mắt khi thấy đứa bé khoảng 2 tuổi đứng dựa cửa nhìn vào. Định bụng lát nữa rảnh tay sẽ chia quà cho nó, vậy mà lúc sau không biết nó chạy đi đằng nào mất rồi. Ân hận mãi. Lúc đó nhiệt độ ngoài trời ở Pa Cheo chỉ khoảng 7-8 độ C là cùng, mưa phùn lất phất. Tôi thử cởi áo khoác, chỉ mặc sơ mi và áo gi-lê len. Và có cảm giác rằng, nếu không vận động liên tục, chỉ cần ngồi hay đứng yên 10-15 phút, tôi có thể đông cứng như que kem.


Chúng tôi lần lượt phát áo len, áo khoác, rồi mũ len, truyện tranh, đồ chơi cho từng bé. Còn quần nỉ và tất thì nhờ các cô phát sau.


Khi mặc áo len cho một bé trai, tôi lại một lần nữa ứa nước mắt. Khi cởi cái áo khoác ngoài rách bươm của nó, tôi phát hiện ra hai ống tay áo ướt sũng, và bên trong áo khoác, có duy nhất cái áo thun cộc tay. Hay cánh tay thằng bé lạnh như đá, tím ngắt. Vội vàng mặc áo len, áo khoác mới cho nó và nhờ cô giáo phơi cái áo khoác cũ cho khô.

Sách của ai đẹp hơn?


Tôi có thể cam đoan với các bạn rằng những cuốn tranh màu xinh xắn, đính kèm cái nơ và bức thiệp nhỏ ghi tên từng bé, do mẹ con bạn Sống Thật Chậm kỳ công chuẩn bị, và các món đồ chơi mà nhiều người góp vào Gánh Hàng Xén, bất kể cũ hay mới, sẽ là những món quà quý giá nhất đối với các bé. Đơn giản bởi chúng, và có lẽ cả các anh chị, thậm chí cả cha mẹ chúng, chưa bao giờ có những thứ này trong đời.

Búp bê có xinh bằng mình không nhỉ?

Ở lớp Mầm Non lớn mới thêm một bé. Nên áo len áo khoác, đã đặt mua theo danh sách từ trước, không đủ phát cho nó. May sao có túi áo len mới do người bạn gửi để dự phòng, tôi chọn một cái to nhất, nó mặc vừa in, súng sính màu hồng, làm các bé bên cạnh ngoái sang ngắm.

Áo len hồng chen giữa


Xong lớp lớn, phát tiếp cho lớp bé. 15 đứa 3 tuổi học trong căn phòng 8-9 m2, là một nửa căn nhà lá này (nửa còn lại là phòng ở của giáo viên, giờ tạm dùng làm bếp nấu ăn cho trẻ Mầm Non). Chỉ giờ ăn, giờ ngủ chúng mới lên ở cùng phòng lớp lớn, trong ngôi nhà xây của Tiểu học.

Lớp học của chúng cháu

Bọn trẻ rất ngoan, chưa đến lượt cứ khoanh tay ngồi chờ. Được quà thì lễ phép cảm ơn, rồi quay sang bạn, cười toe toét khoe quà. Tôi đoán thế, vì chúng nói với nhau bằng tiếng H'Mông, thỉnh thoảng mới được các cô giáo dịch giúp cho vài câu. Chúng nó rất thích thú khi tôi chụp hình, rồi cho từng đứa nhìn thấy hình của mình trên bức ảnh.


Lần thứ ba trong ngày, tôi suýt trào nước mắt khi mặc áo len mới cho thằng bé này. Nó mặc một cái áo sơ mi rách, bên ngoài là cái áo khoác cũng rách. Tôi không thể cởi cái áo khoác ra được, vì nó không có cúc, không có khóa, mà được khâu chỉ hai mép áo. Hỏi cô giáo, cô bảo không cởi được đâu, chúng nó mặc thế cả mấy tháng mùa đông, vì chỉ có chừng đó áo thôi. Đành cắn môi, chọn cái áo len to nhất, mặc chùm ra ngoài áo khoác của nó.



Quá nửa bọn trẻ ở đây luôn luôn trong tình trạng "thò lò mũi xanh", như thằng bé này. Cũng dễ hiểu thôi: trời rét như thế, ăn mặc phong phanh như thế, mũi thò lò còn là chuyện nhỏ, chưa bị sưng phổi còn là may.

Áo mỏng lại ướt, nên mũi thò lò !


Đã 11 giờ, các cháu lớp bé tự xách ghế lên lớp lớn để ăn trưa. Bữa trưa nay chúng được ăn giò, chả, những món ngon dưới xuôi mà có lẽ chúng chưa từng nếm bao giờ. Có lẽ thèm ăn lắm, nhưng tụi nhỏ cứ khoanh tay ngồi chờ, khi nào tất cả các bạn đã có suất ăn, cô nói "Các con ăn nào", chúng nó mới bắt đầu ăn.

Người Hà Nội học làm "hầu bàn"

Mỗi bé được cô xúc cho một tô cơm to, thêm 3-4 miếng giò. Những đứa trẻ nhỏ thành thị có khi còn ỷ eo chê thịt mỡ, thịt dai, các bà các mẹ phải nựng lên nựng xuống mới chịu cho bón nửa bát cơm. Còn bọn trẻ con ở đây tự xúc ăn ngon lành, loáng cái đã hết tô, có đứa còn xin thêm cơm.
Cơm với gì đây nhỉ? (cháu chưa thấy bao giờ)

Món lạ này ngon quá

Trong lúc bọn trẻ Mầm Non ăn ngon lành, tôi tranh thủ ngó kỹ phía ngoài lớp học. Lại thấy đắng lòng vì những cảnh này.

Mút tay cho đỡ đói

Bố con Trưởng thôn


Sẵn có mấy túi áo quần dự phòng nói trên, chúng tôi đem ra phát cho bọn trẻ 1-2 tuổi ở ngoài sân, mỗi đứa 1 áo len, 1 đôi tất, 1-2 cái áo quần thun. Số đồ cũ còn lại (khoảng 50-60 thứ, chủ yếu vừa cho trẻ 2-3 tuổi), nhờ các cô chia nốt cho các cháu nhỏ trong bản, hoặc để lại ở lớp, dự phòng cần thay đồ cho các bé, mỗi khi chúng bị ướt.






Đã 11h30, điện thoại réo, trưởng đoàn thúc giục ra xe để đi tiếp. Chúng tôi vội vàng nhờ các cô làm nốt những việc còn lại: khi bọn trẻ ngủ dậy cho chúng uống thuốc tẩy giun, giữa buổi chiều cho chúng ăn bánh mỳ chấm sữa, ... rồi chào chia tay. Cô giáo trẻ đang nói bỗng nghẹn ngào, quay đi, khóc. Vội quá, chúng tôi cũng chưa kịp xin cô số điện thoại.

Những tưởng được rời trường trong ánh mắt đưa tiễn hân hoan của bọn nhỏ, của dân bản. Nào ngờ chúng tôi lại bị sốc, khi đi ngang qua và ngó vào mấy lớp Tiểu học bên cạnh. Nào chúng nó có được mặc lành lặn, ăn sung sướng gì hơn mấy đứa em bên Mầm Non cho cam. Vậy mà lần này, chúng tôi chẳng mang được gì đến cho chúng nó. Dốc ngược ba-lô, còn một gói kẹo, đem ra chia cho chúng nó đỡ tủi thân, rồi chúng tôi rời trường, thật nhanh, như chạy trốn khỏi cảm giác đau đớn và bất lực.

Chúng cháu học lớp 5 rồi ạ!

Chân trần đến lớp


Trên đường rời Pa Cheo, tôi đã quyết sẽ phải quay lại nơi này, sẽ phải làm gì đó cho bọn Tiểu học, để không bị ám ảnh bởi nỗi xấu hổ trước nụ cười thân thiện, ấm áp và tin cậy thế này đã dành cho chúng tôi.


P/S (07.01.2012; 16h00):
Cách đây ít phút, tôi vừa gọi điện nói chuyện với cô Hải, Mầm Non Tả Lèng. Cô cho biết chiều hôm đó các cô Mầm Non có chia sẻ thức ăn (bánh mỳ, sữa, pate) cho hai lớp Tiểu học cùng nhà với Mầm Non. Còn 3 lớp Tiểu học ở khu nhà khác (cách mấy trăm m) thì chưa đủ để chia :(.
Số quần áo cũ 1-2-3 tuổi chúng tôi để lại, cô cũng đã phân phát hết cho trẻ em trong thôn và một số cháu mẫu giáo bé nhà khó khăn nhất. Dân bản họ biết có áo quần trẻ em, nên đến tận nhà cô giáo để xin, mỗi cháu cũng được 3-4 món nho nhỏ. Cảm thấy chút ấm lòng bạn ơi.

(còn tiếp)